Skip to main content
Thứ ba, 02/11/2010 - 09:42

Chăm sóc vết thương sau phẫu thuật da

1. Mục đích:

Chăm sóc, theo dõi toàn thân và tình trạng của vết thương sau phẫu thuật.

Đánh giá và phát hiện sớm tình trạng nhiễm trùng.

Với những vết thương ở gần ngay vùng vận động của khớp cần biết được để có hướng dẫn người bệnh tập luyện.

Chăm sóc và theo dõi nơi nhận da ghép, vạt được ghép, tình trạng của nơi lấy da để ghép cũng như nơi lấy vạt ghép.

Luôn đảm bảo vết thương sạch sẽ.

Theo dõi sát về màu sắc, nhiệt độ, tình trạng của vạt được cấy ghép đặc biệt là về sức sống của vạt.

Kiểm tra và đánh giá xem kỹ thuật băng và bất động có đúng quy cách hay không.

Hạn chế tới mức tối đa teo cơ, cứng khớp và thoái hóa do bất động không đúng quy cách hoặc bất động lâu ngày.

Phục hồi chức năng để trả lại sự vận động vốn có của bàn tay.

2. Các bước tiến hành:

Theo dõi tình trạng toàn thân : mạch, nhiệt độ, huyết áp để phát hiện các biến chứng nếu có.

Thay băng vết thương nhẹ nhàng bằng dụng cụ đã được vô khuẩn.

Nếu gạc dính nhiều vào vết thương thì cần thấm ướt gạc bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% để thuận lợi khi mở để kiểm tra.

Sát khuẩn xung quanh vết thương, chân dẫn lưu nếu có.

Lau sạch máu và dịch thấm xung quanh vết mổ.

Quan sát tình trạng vết mổ, quá trình liền sẹo.

Đắp lên vết thương gạc sạch vô trùng hoặc gạc mỡ kháng sinh vơi vết thương có lộ tổ chức hạt, cố định lại bằng băng cuộn hoặc băng dính.

Đối với vết thương ở bàn tay: Khi đắp gạc phải lưu ý để gạc giữa các khoang của kẻ ngón tay.

Hướng dẫn người bệnh và gia đình: Hiểu được tình trạng vết thương của người bệnh để chăm sóc giữ vệ sinh, cũng như chấp hành tuyệt đối việc bất động sau mổ. Hướng dẫn tập vận động thụ động và chủ động với những vết thương phần mềm ở gần vùng khớp, hoặc vết thương phần mềm ở bàn tay. Luôn treo tay cao để tránh sưng nề.

3. Sinh lý của sự chăm sóc vết thương:

Nhiễm khuẩn thường ảnh hưởng đến sự lành vết thương. Sức căng giãn ở vết thương đã lành chỉ bằng 80% so với da bình thường.Thời gian lành vết thương có liên quan mật thiết đến vùng da có tổn thương.

Các vết thương do các kỹ thuật phá hủy tạo nên như phẫu thuật lạnh, phẫu thuật điện, phẫu thuật laser và đốt bằng hoá chất thường lành chậm hơn một vết thương sạch tạo nên do dao mổ.

4. Các loại băng vết thương

4.1. Cơ chế của băng vết thương:

Băng kín vết thương giúp vết thương chóng lành hơn. Quá trình tân sinh mạch máu ở trong mô hạt bị kích thích do tình trạng thiếu Oxy chẳng hạn như ở dưới vùng bị băng kín, ngoài ra băng kín còn ngăn chặn sự hình thành vảy tiết và tình trạng khô của đáy của vết thương. Tỷ lệ biểu bì hoá thường nhanh hơn khi băng kín. Dịch từ vết thương ở dưới vùng băng kín tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng sinh tế bào xơ non. Sự dính của các băng kín có thể lấy đi các lớp biểu bì mới hình thành. Băng kín ẩm giúp ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn vào vết thương.

Ở các vết thương mãn tính, sự băng kín giúp vết thương ít đau, mô hạt lên tốt hơn, và cắt lọc vết thương ít đau hơn.

Trong vết thương cấp, băng kín tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển nhưng sự tái tạo thượng bì lại nhanh hơn.

4.2. Chức năng của băng vết thương:

Băng vết thương- một phần chính của chăm sóc vết thương- đã có ảnh hưởng trực tiếp lên quá trình liền vết thương. Một cách lý tưởng, băng phải bảo vệ vết thương tránh các chấn thương cơ học và sư xâm nhập của vi khuẩn. Nên băng vô trùng trước khi lấy khăn mổ để tránh vấy nhiễm vết mổ. Dẫn lưu và các vết thương nhiễm khuẩn cần băng- nó cũng có thể hấp thu dịch tiết và loại bỏ tổ chức hoại tử còn sót lại sau khi cắt lọc ngoại khoa. Bông gạc có mắc lưới rộng đắp vào bề mặt vết thương giúp giữ lại các mảnh vụn hoại tử và chất tiết và lấy bỏ bông gạc này khi thay băng.

Khi mất da diện rộng, băng sinh học giúp che phủ vết thương và giữ không cho vi khuẩn xâm nhập và làm mất dịch do bay hơi.

Băng có tác dụng làm giảm đau trong những trường hợp mất da bán phần hay toàn phần.

Các thuốc kháng sinh tại chỗ có tác dụng làm tăng sự tái tạo bieu bì như : mỡ Neosporine, polymyxin B , Silver sulfadiazine và Benzoyl peroxide 20 %.

4.3. Băng kín:

Sự hình thành của vảy tiết bị ức chế nếu bề mặt của vết thương được giữ ẩm bằng lớp băng kín hay lớp gạc có phết thuốc mỡ Polysporin.

Khi vết thương có đủ độ ẩm, bề mặt da được che kín, lớp biểu bì di chuyển nhanh hơn trên đáy vết thương ẩm ướt. Bệnh nhân sẽ có được sẹo nông hơn, nhỏ hơn, nhẵn hơn và mềm mại hơn. Thường cũng ít bị nhiễm khuẩn hơn.

5. Chăm sóc vết thương sau phẫu thuật da

5.1. Vết thương mất một phần hay toàn bộ da:

- Giữ vết thương ẩm để tránh sự tạo thành vảy tiết (mỡ polysporine, bacitracin...)

- Nên rửa sạch vết thương, tránh không làm sạch vết thương bằng Oxy già và cồn.

5.2.Vết thương sau khâu da:

+ Tại bệnh viện

- Băng bán thấm ( Steri- strips, Clearon skin closures ) tác dụng làm giảm sức căng da, băng thẳng góc với đường khâu da.

- Đặt lên vết thương lớp băng không dính, sau đó băng bằng băng thun, dùng băng dính để đính các mép lại với nhau.

- Băng ép (lưu lại 24- 48 giờ) giảm nguy cơ tạo máu tụ sau bóc các nang.

+ Tại nhà.

Các vết thương nhỏ không cần để băng quá 24- 48 giờ

- Thay băng mỗi ngày 1 lần.

- Rửa vết thương với nước muối sinh lý.

- Băng mỡ kháng sinh lên vết thương, đắp lớp gạc mỏng. Mỡ kháng sinh làm giảm nguy cơ dính của gạc vào đáy vết thương.

- Băng cuộn nếu cần.

5.3. Bất động:

Khi bất động ở bất kỳ vị trí thương tổn nào thì lưu lượng bạch huyết cũng sẽ giảm, do đó làm giảm thiểu sự lan tràn của các vi khuẩn ở ngay tại vết thương. Hơn nữa, các tổ chức được bất động cho thấy có tính đề kháng đối với sự phát triển của vi khuẩn cao hơn so với các vùng tổ chức không được bất động.

Nâng cao vị trí bị tổn thương làm hạn chế sự đọng dịch trong các khoảng kẻ của vết thương. Vết thương mà ít phù nề thì quá trình phục hồi hoàn toàn sẽ nhanh hơn.

5.4 Cắt chỉ:

Thời gian thích hợp để cắt chỉ được quyết định bởi độ chắc chắn trên bờ vết thương, tình trạng dinh dưỡng, sự hiện diện của vi khuẩn và mối quan tâm về thẩm mỹ.

Nói chung cat chỉ sớm (4-5 ngày) có thể áp dụng ở những vùng mà có nguồn cung cấp máu tốt.

Chăm sóc sau cùng là cắt chỉ, ta phải nhớ rằng có thể xảy ra bung vết thương nếu thiếu cân nhắc thận trọng.

 

TÓM LẠI:

Chất lượng sẹo sau quá trình liền vết thương là mối quan tâm lớn của các nhà phẫu thuật tạo hình. Chất lượng sẹo đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Vì vậy, các thầy thuốc chúng ta không chỉ nắm vững về cấu trúc da, kỹ thuật rạch da, các thao tác khi sử dụng các dụng cụ phẫu thuật tạo hình một cách đúng đắn, những yếu tố liên quan đến quá trình liền vết thương mà còn phải biết cách chăm sóc vết thương sau phẫu thuật, tất cả đã góp phần quan trọng vào việc hình thành sẹo đẹp.

 

(Sưu tầm)